Giỏ hàng

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Muốn đạt được mức glucose-máu gần như bình thường 3,9- 7mmol/L trong máu tĩnh mạch lúc đói và 10mmol/L sau ăn cũng như không để glucose- máu hạ thấp dưới 3mmol/L thì cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng phù hợp.

Người bệnh tiểu đường phải biết cần ăn gì, ăn nhiều hay ăn ít ra sao, ngày ăn mấy bữa và thời gian ăn như thế nào, đồng thời phải biết cách phối hợp ăn uống với dùng thuốc.

Phương pháp điều trị tiểu đường không bắt chúng ta phải kiêng khem quá nhiều. Các bữa ăn cần phải không gây tăng nồng độ glucose- máu một cách quá mức, vừa hạn chế tăng...

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Muốn đạt được mức glucose-máu gần như bình thường 3,9- 7mmol/L trong máu tĩnh mạch lúc đói và 10mmol/L sau ăn cũng như không để glucose- máu hạ thấp dưới 3mmol/L thì cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng phù hợp.

Người bệnh tiểu đường phải biết cần ăn gì, ăn nhiều hay ăn ít ra sao, ngày ăn mấy bữa và thời gian ăn như thế nào, đồng thời phải biết cách phối hợp ăn uống với dùng thuốc.

Phương pháp điều trị tiểu đường không bắt chúng ta phải kiêng khem quá nhiều. Các bữa ăn cần phải không gây tăng nồng độ glucose- máu một cách quá mức, vừa hạn chế tăng cholesterol và triglycerid trong máu. Điều này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt trong cả phòng chống các bệnh tim mạch và tránh biến chứng của bệnh tiểu đường.

7 nguyên tắc về chế độ ăn:

  • Cung cấp đủ năng lượng
  • Giảm chất bột đường
  • Tăng cường chất xơ
  • Chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp
  • Chia bữa ăn thành nhiều bữa
  • Cố định giờ ăn
  • Ổn định lượng thực phẩm ăn vào.

 

  1. Cung cấp đủ năng lượng:

- Lao động nhẹ: 30 Kcal/kg/ngày

- Lao động trung bình: 35 Kcal/kg/ngày

- Lao động nặng: 40 Kcal/kg/ngày

- Người thừa cân: 20- 25 Kcal/kg/ngày

Đối với người tiểu đường thì việc biết được nhu cầu của mình ăn được bao nhiêu bát cơm/ bữa hoặc không ăn cơm thì thay bằng thực phẩm gì với lượng bao nhiêu là rất cần. Không thể áp dụng chung chung thực đơn như nhau vì mỗi người sở hữu chiều cao và cân nặng riêng, có hoạt động thể lực riêng và có phác đồ dùng thuốc riêng nên mỗi người phải tự tạo cho mình một thực đơn riêng dựa trên cách tính sau:

Để tính được nhu cầu tinh bột trong ngày, cần thực hiện 3 bước sau:

1.1. Tính cân nặng lý tưởng:

Cân nặng lý tưởng        = Chiều cao x chiều cao x 22 (nam)

                               = Chiều cao x chiều cao x 21 (nữ)

(chiều cao tính bằng mét)

Ví dụ: một người nam, cao 1.6m, thì cân nặng lý tưởng = 1.6 x 1.6 x 22 = 56kg.

Chú ý: phải tính theo cân nặng lý tưởng vì có thể bạn đang thừa cân hoặc thiếu cân thì đều phải đưa về cân nặng lý tưởng để tính nhu cầu cho phù hợp.

1.2. Tính năng lượng trong một ngày

Năng lượng

 = cân nặng lý tưởng x 30 kcal (cho người lao động nhẹ: nội trợ, hành chính…)

  = cân nặng lý tưởng x 35 kcal (cho người lao động trung bình: Học sinh, SV)

 = cân nặng lý tưởng x 40 kcal (cho người lao động nặng: thợ rèn, vận động viên, nông dân trong ngày mùa …)                                                                           

Ví dụ trực tiếp ở người bệnh trên:

Giả sử là sinh viên (lao động trung bình)

Năng lượng = 56 x 35 = 1960 kcal/ngày.

  • Tính lượng tinh bột

Ở bệnh tiểu đường, năng lượng do tinh bột cung cấp chiếm 55 – 65% tổng năng lượng

Số gam tinh bột = số kcal do tinh bột cung cấp/ 4

Ví dụ người bệnh trên:

Năng lượng do tinh bột cung cấp = 60 x 1960/100 = 1176 kcal

Số gam tinh bột = 1176/4 = 294g/ ngày.

  • Phân chia lượng tinh bột vào các bữa ăn

 1.4.1.Lượng tinh bột trong bữa phụ:

Người bệnh tiểu đường có thể ăn 1 hoặc 2 hoặc 3 bữa phụ trong ngày tùy theo tình trạng glucose - máu, tính chất công việc…

Trong bữa ăn phụ, người bệnh tiểu đường chỉ nên ăn khoảng 15g tinh bột (= 1,5 lạng quả bưởi hoặc thanh long hoặc ổi hoặc bưởi hoặc đu đủ..)

(= ½ cốc sửa tiểu đường = 1 chiếc bánh tiểu đường)

(= 1 gói bột ngũ cốc cho người tiểu đường).

1.4.2.Lượng tinh bột trong bữa chính:

Được tính bằng tổng số tinh bột tính ra theo nhu cầu trong ngày trừ đi phần tinh bột ăn trong bữa phụ, rồi chia trung bình cho 3 bữa.

Ví dụ vẫn người bệnh trên: giả sử ăn 3 bữa chính và 3 bữa phụ trong ngày:

  • Lượng tinh bột trong 3 bữa phụ = 3x15 = 45 gam
  • Lượng tinh bột trong 3 bữa chính = 294 – 45 = 249gam
  • Lượng tinh bột trong 1 bữa chính = 249/3 = 83gam = 2 lưng bát con cơm.

1.4.3. Lượng tinh bột ứng với số cơm

40g tinh bột = 1/2 bát con cơm = 1,2 lạng bánh phở = 1,6 lạng bún = 1,6 lạng khoai

50g tinh bột = 1 sét bát con cơm = 1,5 lạng phở = 2,0 lạng bún hoặc khoai

60g tinh bột = 1 miệng bát con cơm = 1,8 lạng phở = 2,4 lạng bún hoặc khoai

80g tinh bột = 2 lưng bát con cơm = 2,4 lạng phở = 3,2 lạng bún hoặc khoai

100g tinh bột = 2 xét bát con cơm = 3,0 lạng phở = 4,0 lạng bún hoặc khoai

  1. Giảm chất bột đường

Hệ dinh dưỡng có 2 loại chất dinh dưỡng là chất dinh dưỡng sinh nhiệt và chất dinh dưỡng không sinh nhiệt.

  • Chất dinh dưỡng sinh nhiệt gồm chất bột, chất đạm và chất béo, là 3 chất sinh ra năng lượng.
  • Chất dinh dưỡng không sinh nhiệt thuộc về nguồn vitamin, khoáng chất, chất xơ là các chất không sinh ra năng lượng.

 

STT

Chất

Người bình thường

Người tiểu đường

1

Chất bột

70%

60%

2

Chất đạm

15%

15%

3

Chất béo

15%

15%

4

Chất bột giảm

 

10%

Người bệnh tiểu đường khi giảm 10% tinh bột thì bù vào các chất đạm và chất béo, như vậy tổng năng lượng vào cơ thể vẫn là 100% như người bình thường. Không nên hiểu bệnh tiểu đường là bệnh ăn kiêng giảm hoàn toàn, điều đó không đúng vì khi giảm quá nhiều tinh bột sẽ thiếu năng lượng dễ dẫn đến hạ đường huyết. Nhiều người bệnh không hiểu về bệnh tiểu đường nên ăn kiêng quá mức gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ.

  1. Tăng cường chất xơ:

- Nhu cầu xơ của người bình thường: 20g xơ/ngày

- Nhu cầu xơ của người bệnh tiểu đường: 25-30g xơ/ngày, tối đa không quá 50g xơ/ngày.

Tính trung bình trong 100g rau chỉ chứa có 3g xơ. Như vậy, phần lớn người bình thường vẫn đang còn thiếu xơ, khi bị tiểu đường nhu cầu xơ còn tăng lên nhưng tránh tình trạng có người bệnh nghĩ càng ăn nhiều rau càng tốt, vượt quá 50g xơ/ngày dẫn đến tắc ruột phải vào viện phẫu thuật. Chính vì vậy, việc ăn bao nhiêu rau còn phụ thuộc vào việc thích nghi của cơ thể chính mình.

Ví dụ: Để có được 25-30g xơ/ngày người bệnh đã phải ăn 1kg rau. Nhưng phải nghe ngóng cơ thể nếu trước khi bị bệnh tiểu đường bạn không ăn rau, nhưng khi bị bệnh bạn đã ăn một bát rau, như vậy là đã tăng xơ theo thể tích dạ dày và thích nghi của cơ thể chính mình. Vẫn phải đảm bảo đủ tinh bột, tránh tình trạng thiếu tinh bột dẫn đến thiếu năng lượng gây hạ đường huyết đột ngột nguy hiểm cho tính mạng.

  • Chất xơ gồm 2 loại là chất xơ hoà tan và chất xơ không tan:

+ Chất xơ hoà tan (có trong rau đay, mùng tơi, đậu bắp, ngọn rau non) có tác dụng rất tốt nếu bị rối loạn lipid - máu, xơ gan.

+ Chất xơ không tan (có trong các loại rau thông thường) làm cho quá trình hấp thu đường vào máu chậm hơn v.v…

  1. Lựa chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp

Chỉ số glucose huyết (GI) của thực phẩm là khả năng làm tăng glucose- máu của một loại thực phẩm sau khi ăn và bị ảnh hưởng nhiều bởi dạng chế biến và sự phối hợp thực phẩm.

Ví dụ: Có 2 củ khoai, mỗi củ 100g tức lượng đường trong 2 củ khoai bằng nhau, nhưng 1 củ luộc và 1 củ nướng. Sau khi ăn khoai nướng, lượng glucose-máu tăng nhanh hơn vì khoai nướng tiếp xúc trực tiếp với nhiệt độ cao làm phân ly các phân tử đường trong khoai nướng thành từng hạt đơn như đường glucose hấp thu trực tiếp vào trong máu. Còn khoai luộc cùng lượng đường như khoai nướng nhưng phân tử đường cấu tạo ở dạng chuỗi dài, ăn vào thì cơ thể phải mất thời gian tiết enzym để phân ly các phân tử đường thành từng hạt đơn rồi mới hấp thu vào trong máu, lúc đó mới gây tăng glucose-máu (thời gian hấp thu khoảng 1 giờ). Như vậy chỉ số đường huyết của củ khoai nướng cao hơn củ khoai luộc rõ rệt.

Kết luận: Chỉ số đường huyết của thực phẩm chính là chất lượng đường trong thực phẩm

Chú ý: Như vậy trước khi ăn thực phẩm có chỉ số đường huyết cao, ta phối hợp ăn nhiều rau vì theo nguyên lý của dạ dày, thực phẩm nào vào trước sẽ được nhào trộn và tiêu hoá trước. Trong khi cơ thể không có enzym để tiêu hoá chất xơ nên chất xơ đứng bao quanh thành dạ dày và tạo thành hàng rào xơ cản trở hấp thu đường chậm hơn. Đây chính là bí quyết giúp chúng ta không phải kiêng khem quá mức.

BẢNG CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA THỰC PHẨM      

Thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp (<50)

TÊN THỰC PHẨM

CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT

1.   Cà rốt

49

2.   Đậu Hạt

49

3.   Nho tươi, Táo

43

4. Sữa chua trái cây

41

4.   Sữa đậu nành

34

5.  Sữa gày

32

6.   Ngô

32,9

7.   Anh đào

32

8.   Lúa mạch

31

9.  Phở

26,5

10.  Lạc

19

11. Mận

24

12. Bưởi

22

13. Đậu tương

18

14. Cà chua

15

15. Cải bắp; Xà lách

10

16. Rau muống

10

17. Bông cải xanh

10

 

Thực phẩm có chỉ số đường huyết trung bình (50-69)

TÊN THỰC PHẨM

CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT

1. Cháo gạo

69

2. Bánh quy

55-65

3. Cam

66

4. Khoai tây luộc

66

5. Khoai sọ

58

6. Đu đủ

56

7. Khoai lang luộc

54

8. Xoài

55

9. Chuối; Táo

53

10. Kem

52

11. Sữa chua

52

12. Khoai, mì (sắn)

50

13. Củ từ

51

 

Thực phẩm có chỉ số đường huyết cao > 70

TÊN THỰC PHẨM

CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT

1.   Đường kính

138

2.   Khoai lang nướng

135

3.   Mật ong

126

4.   Bánh mì trắng

100

5.   Ngô rang, ngô nướng

99

6.   Bột dong

95

7.   Nho khô

93

8.  Bánh gạo giòn

91

9.   Xôi

88

10. Cơm tám

86

10. Gạo trắng; Miến; Bột sắn

83

11. Gạo lứt

81

12. Khoai tây luộc

78

13. Dưa hấu

72

13. Nước vắt cam

71

 

  1. Chia nhỏ bữa ăn thành nhiều bữa nhưng tổng năng lượng của ngày không đổi.

Tuỳ tình trạng của từng người bệnh mà chia thành 4 hoặc 5 hoặc 6 bữa nhằm mục đích tránh tăng glucose- máu cao sau ăn và tránh hạ glucose-máu quá thấp khi xa bữa ăn.

  1. Cố định giờ ăn

Người bệnh nên ăn vào giờ nhất định vì ở những người tiểu đường týp 2 cơ thể vẫn còn khả năng sản xuất một phần insulin. Khi ăn vào giờ nhất định, đồng hồ sinh học quen vào giờ đó, cơ thể kích thích tự tiết ra insulin nhiều nhất. Nếu không ăn uống theo giờ nhất định, tuỵ không biết đâu là bữa ăn chính. Khi tuỵ tiết được nhiều insulin thì ăn ít gây hạ đường huyết. Khi tuỵ tiết ra ít insulin thì lại ăn nhiều gây tăng đường huyết, đường huyết dao động liên tục gây nên nhiều biến chứng tiểu đường.

  1. Ổn định lượng thực phẩm (tinh bột) ăn vào

           Nhằm mục đính ổn định đường huyết

Ví dụ: Miệng bát cơm là 60g tinh bột, hôm nay bạn không ăn cơm mà ăn bún phở thì phải đổi ra lượng bao nhiêu bún phở để có được 60g tinh bột (Ứng dụng công thức tính ở mục 1 chương 4)

Danh mục tin tức